Một số đánh giá đối với bảo hiểm trong xuất nhập khẩu

0
839
Một số đánh giá đối với bảo hiểm trong xuất nhập khẩu

 

Về cơ hội:

Thứ nhất, Trong điều kiện hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới những năm vừa qua, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đang ngày càng được mở rộng như đã trình bày phía trên. Điều này chính là cơ hội để ngành bảo hiểm trong xuất nhập khẩu hàng hóa trong nước phát triển.

Thứ hai, nhà nước và Chính phủ đang có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Là một trong năm lĩnh vực mà nhà nước đẩy mạnh hỗ trợ cả về vốn (thông qua hỗ trợ lãi suất) lẫn các chính sách thông thoáng (giảm thuế…), lĩnh vực xuất nhập khẩu hứa hẹn những cơ hội phát triển mạnh. Bảo hiểm đối với hàng hóa xuất nhập khẩu lẽ dĩ nhiên cũng được lợi từ những chính sách này.

Thứ ba, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã và đang ngày càng lớn mạnh. Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong việc khai thác khách hàng mới. Chất lượng phục vụ được nâng lên đáng kể. Ngoài việc cung cấp sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chủ động tăng cường tiếp cận khách hàng để tư vấn kỹ thuật chuyên môn, giúp khách hàng lựa chọn rủi ro tham gia bảo hiểm cho phù hợp và đạt hiệu quả. Hiện nay các ngân hàng, doanh nghiệp, công ty bảo hiểm có những cán bộ chủ chốt am hiểu về dịch vụ bảo hiểm và đội ngũ nhân viên được đào tạo đầy đủ về kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Bên cạnh những cơ hội kể trên, còn không ít những khó khăn, những điểm hạn chế cần khắc phục đối với bảo hiểm các hàng hóa trong xuất nhập khẩu.

Về thách thức:

Thứ nhất, Hoạt động XNK của nước ta chủ yếu áp dụng phương thức xuất khẩu theo FOB và nhập khẩu theo CIF. Với các phương thức XNK trên đã hạn chế khả năng ký kết của các công ty bảo hiểm Việt Nam bởi quyền vận tải và bảo hiểm thuộc phía nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tuỳ ý thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường, hó ký hợp đồng với các công ty của nước mình, như vậy các công ty bảo hiểm nước ngoài có điều kiện phát triển hơn.

Thứ hai, Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm VN còn hạn chế, chưa mang tầm quốc tế. Ngoại từ Bảo Việt thành lập năm 1965 có vốn lớn, các công ty khác đều vừa mới được thành lập sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 với mức vốn kinh doanh chưa đến 80 tỷ đồng, trong khi đó, nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài ra đời cách đây hàng trăm năm, vốn kinh doanh hàng tỷ Đôla Mỹ. Thêm vào đó, trình độ cán bộ làm công tác bảo hiểm nói chúng còn bấp caaoj so với đòi hỏi của thị trường mà còn non yếu so với mặt bằng thế giới.

Thứ ba, Hành vi trục lợi trong bảo hiểm hàng hoá XNK. Hàng hoá được yêu cầu bảo hiểm trong hàng trình vận chuyển nhưng chưa đóng phí bảo hiểm. Khi biết hàng về đến nới an toàn, khách hàng xin huỷ đơn bảo hiểm hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm để khỏi phải đóng phí. Thậm chí có chủ hàng biết thông tin hàng hoá của mình bị tổn thất rồi mới đến mua bảo hiểm hoặc thông đồng với cán bộ của doanh nghiệp bảo hiểm để mua bảo hiểm và nhận bồi thường cho tổn thất đó. Trên thực tế còn có việc tạo hiện trường giả các vụ tai nạn, cháy hoặc chìm tàu, cố ý gây tai nạn trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm, gian lận đối với người thứ ba, mặc dù đã nhận tiền bảo hiểm…